Báo Cần Thơ

Bà Phạm Thị Minh Huệ, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, góp ý dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi)

Cỡ chữ 18 pixel

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, chiều 24-10, Quốc hội thảo luận ở tổ. Bà Phạm Thị Minh Huệ, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, góp ý dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi).

Bà Phạm Thị Minh Huệ phát biểu trong phiên thảo luận ở tổ chiều 24-10.

1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng (Điều 1 dự thảo Luật).

Khoản 2, Điều 1 dự thảo quy định “2. Đối tượng áp dụng: Luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm, nguyên liệu làm thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, hương liệu thực phẩm, vi chất dinh dưỡng, dụng cụ, vật liệu, bao bì tiếp xúc trực tiếp thực phẩm và tổ chức, cá nhân khác có hoạt động liên quan đến an toàn thực phẩm tại Việt Nam.”, theo khoản 2, Điều 1 dự thảo đối tượng áp dụng của Luật chỉ có “tổ chức, cá nhân” là chưa đầy đủ đối tượng, vì ngoài đối tượng tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, có hoạt động liên quan đến an toàn thực phẩm thì còn có các cơ quan quản lý nhà nước, điển hình như tại Chương VIII quy định về “Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm”, theo đó, từ Điều 63 đến Điều 71 dự thảo Luật quy định trách nhiệm của các bộ, ngành Trung ương và UBND các cấp. Do đó, đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát, nghiên cứu bổ sung đối tượng cho đầy đủ và phù hợp.

2. Giải thích từ ngữ (Điều 2 dự thảo Luật).

Khoản 14: “14. Lô sản phẩm thực phẩm là một số lượng xác định của một loại sản phẩm cùng tên, chất lượng, nguyên liệu, thời hạn sử dụng và cùng được sản xuất tại một cơ sở.”.

Quy định này chưa làm rõ được khái niệm của “lô sản phẩm” là gì? Vì nếu sản phẩm chỉ quy định là 1 khối lượng sản phẩm cùng tên, chất lượng, nguyên liệu, thời hạn sử dụng và cùng sản xuất tại 1 cơ sở thì chỉ thể hiện được sản phẩm đó cùng loại, chưa thể hiện cùng số lô. Ví dụ: 1 tấn đường cát được chia thành các bao nhỏ khoảng 500gr/bao, cùng tên, chất lượng, nguyên liệu, thời hạn sử dụng và cùng sản xuất tại 1 cơ sở, nhưng những yếu tố này chưa đủ để xác định tất cả các bao thuộc cùng 1 lô sản phẩm hay thuộc các lô khác nhau. Đề nghị xem xét, tham khảo cách quy định về lô sản phẩm tại QCVN 16:2023/BXD để quy định cho phù hợp: “1.3.4. Lô sản phẩm là tập hợp một loại sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng có cùng thông số kỹ thuật và được sản xuất cùng một đợt trên cùng một dây chuyền công nghệ.”.

3. Nguyên tắc quản lý an toàn thực phẩm (Điều 4 dự thảo Luật).

Khoản 2, Điều 4 dự thảo Luật quy định “2. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm chịu trách nhiệm về an toàn đối với thực phẩm do mình kinh doanh và phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện do cơ quan có thẩm quyền ban hành.”. Đề nghị rà soát, nghiên cứu quy định này, vì dự thảo quy định “Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm” nhưng đối tượng chịu trách nhiệm về an toàn thực phẩm thì chỉ áp dụng đối với “sản phẩm do mình kinh doanh”. Vấn đề đặt ra là nếu tổ chức, cá nhân này vừa sản xuất, vừa kinh doanh thì có cần chịu trách nhiệm an toàn thực phẩm đối với sản phẩm do mình sản xuất hay không? Do đó, đề nghị nghiên cứu để quy định nguyên tắc được chặt chẽ, thống nhất.

4. Những hành vi bị nghiêm cấm (Điều 7 dự thảo Luật).

Khoản 1, Điều 7 dự thảo quy định “Sử dụng nguyên liệu không dùng cho thực phẩm để chế biến thực phẩm theo quy định của pháp luật.”, đại biểu nhận thấy dự thảo quy định “Sử dụng nguyên liệu không dùng cho thực phẩm để chế biến thực phẩm” là đã đầy đủ nội dung để thể hiện hành vi bị nghiêm cấm. Do đó, nội dung này đề xuất nghiên cứu áp dụng quy định theo Luật An toàn thực phẩm năm 2010 “Sử dụng nguyên liệu không thuộc loại dùng cho thực phẩm để chế biến thực phẩm” hoặc điều chỉnh theo hướng bỏ cụm từ “theo quy định của pháp luật” để nội dung hành vi cấm rõ ràng hơn.

Khoản 2, Điều 7 dự thảo quy định“Sử dụng nguyên liệu làm thực phẩm quá hạn sử dụng đối với nguyên liệu có hạn sử dụng, không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc không bảo đảm an toàn để sản xuất thực phẩm”, đối với hành vi này, đề nghị cơ quan soạn thảo xác định có nguyên liệu làm thực phẩm không có hạn sử dụng hay không? Trường hợp xác định tất cả các nguyên liệu làm thực phẩm đều có hạn sử dụng thì đề xuất bỏ cụm từ “đối với nguyên liệu có hạn sử dụng” để nội dung được ngắn gọn, súc tích, rõ ràng.

5. Khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm (Điều 55).

Khoản 3, Điều 55 dự thảo quy định “3. UBND các cấp có trách nhiệm tổ chức thực hiện các biện pháp khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm quy định tại khoản 2 Điều này trong phạm vi địa phương nếu có sự cố mất an toàn thực phẩm.”, đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu đối với cụm từ “nếu có sự cố mất an toàn thực phẩm” vì:

Các biện pháp khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm đã được quy định cụ thể tại khoản 2, Điều 55 dự thảo Luật, theo đó, chỉ khi có sự cố mất an toàn thực phẩm thì UBND các cấp mới có trách nhiệm tổ chức thực hiện các biện pháp khắc phục sự cố. Do đó, việc sử dụng cụm từ “nếu có sự cố mất an toàn thực phẩm” tại khoản này là không cần thiết.

6. Thu hồi và xử lý đối với thực phẩm không bảo đảm an toàn (Điều 56 dự thảo Luật).

Điểm d, khoản 1, Điều 56 dự thảo Luật quy định “d) Thực phẩm bị hư hỏng hoặc có khuyết tật trong quá trình bảo quản, vận chuyển, kinh doanh;”, đề nghị cơ quan soạn thảo thuyết minh làm rõ nội dung “thực phẩm có khuyết tật” để làm cơ sở cho việc tổ chức thực hiện được đồng bộ, thống nhất. Bên cạnh đó, đề nghị rà soát, có trường hợp nào thực phẩm có khuyết tật trong quá trình sản xuất không? Nếu xác định có, đề nghị bổ sung vào điểm này để quy định cho đầy đủ.

7. Ghi nhãn (Điều 62).

Theo khoản 1, Điều 62 dự thảo Luật nêu “1. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm và hương liệu thực phẩm tại Việt Nam phải thực hiện việc ghi nhãn thực phẩm theo quy định của pháp luật về ghi nhãn hàng hóa”, theo quy định này được hiểu việc ghi nhãn thực phẩm được thực hiện theo quy định của pháp luật về ghi nhãn hàng hóa, tuy nhiên, khoản 2, Điều 62 dự thảo Luật lại nêu “2. Bộ trưởng Bộ Y tế quy định ghi nhãn thực phẩm”.

Như vậy, việc ghi nhãn thực phẩm theo dự thảo vừa viện dẫn vừa “theo quy định của pháp luật về ghi nhãn hàng hóa” vừa “giao Bộ trưởng Bộ Y tế quy định” nhận thấy có sự trùng lắp. Do đó, đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ, việc ghi nhãn thực phẩm được thực hiện như thế nào, theo quy định của pháp luật về ghi nhãn hàng hóa hay do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định ghi nhãn thực phẩm để tránh trùng lắp.

8. Trách nhiệm của UBND cấp tỉnh (khoản 1, Điều 71 dự thảo Luật).

Điểm n, khoản 1, Điều 71 dự thảo nêu “n) Tùy tình hình kinh tế - xã hội, căn cứ vào điều kiện đặc thù tại từng địa phương, UBND cấp tỉnh có thể tiếp tục phân cấp, phân quyền cho UBND cấp xã thực hiện công tác quản lý nhà nước trên địa bàn.”, đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát nghiên cứu đối với nội dung “UBND cấp tỉnh có thể tiếp tục phân cấp, phân quyền cho UBND cấp xã”, vì:

Theo khoản 1, Điều 12 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 quy định “Việc phân quyền cho chính quyền địa phương các cấp phải được quy định trong luật, nghị quyết của Quốc hội,…”; do đó, đề nghị bỏ quy định “phân quyền” tại khoản này cho phù hợp.

Dự thảo quy định UBND cấp tỉnh “có thể tiếp tục phân cấp… cho UBND cấp xã” là chưa rõ ràng, đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát, nghiên cứu xác định cụ thể trách nhiệm của UBND cấp tỉnh, để các địa phương thống nhất cách hiểu và tổ chức thực hiện.

9. Điều khoản chuyển tiếp (Điều 74 dự thảo Luật).

Khoản 5, Điều 74 dự thảo Luật quy định “5. Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đã được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực được tiếp tục hiệu lực thực hiện cho đến khi hết hiệu lực và phải làm thủ tục cấp mới theo quy định tại Luật này trước khi Giấy chứng nhận cũ hết hiệu lực; các cơ sở chưa được cấp phải thực hiện hồ sơ, thủ tục cấp theo quy định tại Luật này và các văn bản quy định chi tiết thi hành.”, đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu làm rõ “các cơ sở chưa được cấp” thuộc trường hợp nào?

Một là, nếu thuộc trường hợp đến ngày Luật có hiệu lực mà chưa nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm thì mặc nhiên việc thực hiện hồ sơ, thủ tục phải tuân thủ quy định của Luật này. Nên không cần quy định nội dung này tại quy định chuyển tiếp.

Hai là, nếu thuộc trường hợp cơ sở đã nộp hồ sơ trước ngày Luật có hiệu lực nhưng đến ngày Luật có hiệu lực cơ sở vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận: Nội dung này đã được quy định chuyển tiếp tại khoản 6, Điều 74 dự thảo Luật.

Từ các nội dung trên, đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát nội dung quy định chuyển tiếp tại khoản 5, Điều 74 dự thảo để quy định cho phù hợp, thống nhất.

PV (lược ghi)