Báo Cần Thơ

Bà Triệu Thị Ngọc Diễm, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, góp ý dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi)

Cỡ chữ 18 pixel

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, sáng 24-10, sau khi nghe các tờ trình và báo cáo thẩm tra, Quốc hội thảo luận ở tổ. Bà Triệu Thị Ngọc Diễm, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, góp ý dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi).

Bà Triệu Thị Ngọc Diễm phát biểu trong phiên thảo luận ở tổ sáng 24-10.

Việc hoàn thiện cơ chế quản lý, sử dụng không gian biển có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đời sống của người dân ven biển. Thực tiễn hiện nay đang đặt ra yêu cầu giải quyết chồng lấn sử dụng không gian biển, bảo vệ sinh kế và nâng cao năng lực quản lý. Những hạn chế này đã được nhận diện trong quá trình triển khai định hướng phát triển kinh tế biển.  Qua nghiên cứu dự thảo, đại biểu góp ý 2 vấn đề cụ thể như sau:

(1) Về cách xác định nghĩa vụ tài chính đối với hộ gia đình, cá nhân nuôi trồng thủy sản trong thời kỳ chuyển tiếp.

Điểm d, khoản 5, Điều 75 quy định: đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định khu vực biển để nuôi trồng thủy sản trước ngày 30 tháng 3 năm 2021 nhưng chưa được giao khu vực biển, khi được giao hoặc cho thuê thì thực hiện nghĩa vụ tài chính kể từ ngày 30 tháng 3 năm 2021; mức thu được xác định theo pháp luật tại thời điểm giao, cho thuê.

Đề nghị cân nhắc kỹ quy định này. Theo điểm đ cùng khoản, việc giao, cho thuê phải hoàn thành đến cuối năm 2028. Như vậy, đối với trường hợp được giải quyết vào thời điểm này, thời gian tính nghĩa vụ tài chính có thể kéo dài hơn 7 năm. Nếu áp dụng mức thu tại thời điểm giao, cho thuê cho toàn bộ thời gian trước đó, khoản phải nộp có thể lớn so với khả năng tích lũy của hộ sản xuất. Đây là hệ quả có thể phát sinh từ chính cách thiết kế điều khoản. Cơ quan soạn thảo cần có đánh giá số hộ chịu tác động, số tiền dự kiến phải nộp và khả năng thực hiện trước khi Quốc hội quyết định.

Mặt khác, việc chưa được giao khu vực biển có thể xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau. Có trường hợp người sử dụng chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm; nhưng cũng cần tính đến trường hợp chậm xác định ranh giới, chậm hoàn thiện quy hoạch hoặc chậm giải quyết thủ tục. Nếu áp dụng cùng một cách xử lý mà không phân biệt nguyên nhân thì chưa bảo đảm công bằng.

Đề nghị sửa điểm d, khoản 5, Điều 75 theo hướng: “Thời điểm phát sinh và mức thu nghĩa vụ tài chính đối với thời gian trước khi được giao, cho thuê khu vực biển được xác định theo quy định pháp luật áp dụng trong từng thời kỳ; không áp dụng mức thu tại thời điểm giao, cho thuê cho toàn bộ thời gian trước đó. Khoản tiền đã nộp cho cùng diện tích, thời gian và nội dung nghĩa vụ được khấu trừ cho từng giai đoạn riêng. Chính phủ quy định việc miễn, giảm, gia hạn hoặc nộp theo kỳ đối với trường hợp đủ điều kiện.”

Đồng thời, đề nghị sửa quy định về việc không giao, cho thuê khi người dân “không thực hiện nghĩa vụ tài chính”, theo hướng chỉ áp dụng sau khi đã xác định, thông báo rõ nghĩa vụ, hết thời hạn thực hiện và đã xem xét chính sách miễn, giảm, gia hạn theo quy định. Việc sắp xếp lại nuôi trồng thủy sản cần giúp người dân ổn định sản xuất và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước. Không nên để cách tính nghĩa vụ chuyển tiếp làm người đang có nhu cầu, có khả năng sản xuất phải rời bỏ sinh kế.

(2) Trường hợp không đấu giá quyền sử dụng khu vực biển.

Khoản 1, Điều 27 xác định nguyên tắc lựa chọn tổ chức, cá nhân thông qua đấu giá. Tuy nhiên, điểm d, khoản 3 lại cho phép không đấu giá đối với khu vực biển chưa được xác định cụ thể mục đích, vị trí, tọa độ, ranh giới, diện tích, thời hạn, điều kiện sử dụng hoặc nằm ngoài danh mục đấu giá. Quy định này có nguy cơ làm giảm hiệu lực của nguyên tắc đấu giá.

Cơ chế phân bổ phải bảo đảm minh bạch ngay từ đầu, đồng thời tạo điều kiện cho nhà đầu tư có năng lực tiếp cận bình đẳng. Việc chưa xác định đầy đủ thông tin khu vực biển là công việc quản lý cần hoàn thành trước khi quyết định giao, cho thuê. Việc chưa đưa khu vực biển vào danh mục cũng phụ thuộc vào tiến độ của cơ quan nhà nước. Nếu cả 2 trường hợp đều trở thành căn cứ không đấu giá thì sự chậm trễ trong chuẩn bị có thể dẫn đến áp dụng ngoại lệ.

Đề nghị bỏ điểm d, khoản 3, Điều 27. Trường hợp chưa đủ dữ liệu thì phải hoàn thiện dữ liệu; trường hợp chưa có danh mục thì phải xác định trách nhiệm và thời hạn lập danh mục. Sửa khoản 6, Điều 75, không quy định việc chưa có danh mục đấu giá là căn cứ chung để giao, cho thuê không qua đấu giá. Trong thời gian chuyển tiếp, việc không đấu giá chỉ nên áp dụng đối với các trường hợp ngoại lệ được Luật xác định rõ; quyết định phải nêu căn cứ, lý do và được công khai theo quy định.

Cách sửa này vẫn giữ được những trường hợp cần thiết như công trình hạ tầng thiết yếu hoặc dự án đã lựa chọn nhà đầu tư theo pháp luật, đồng thời hạn chế việc mở rộng ngoại lệ chỉ vì chưa hoàn thành công việc quản lý.

PV (lược ghi)