Báo Cần Thơ

Ông Đào Chí Nghĩa, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ, góp ý dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi)

Cỡ chữ 18 pixel

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, chiều 24-10, Quốc hội thảo luận ở tổ. Ông Đào Chí Nghĩa, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ, tham gia đóng góp một số ý quan trọng về dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi).

Ông Đào Chí Nghĩa phát biểu trong phiên thảo luận ở tổ chiều 24-10.

Qua nghiên cứu dự thảo ngày 12-10-2026, Báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Luật và Báo cáo thẩm tra số 995/BC-UBKHCNMT16 ngày 22-10-2026, đại biểu góp ý một số điều khoản cụ thể như sau.

Thứ nhất, đề nghị làm rõ khoản 40, Điều 2. Đề nghị giải thích nguy cơ thực phẩm không an toàn.

Thứ hai, về điều kiện an toàn thực phẩm đối với hoạt động giao đồ ăn trực tuyến tại Điều 36 và trách nhiệm của nền tảng tại Điều 13.

Điều 36 hiện tập trung vào yêu cầu đăng tải thông tin cơ sở và tiếp nhận phản ánh, nhưng chưa thể hiện thật rõ điều kiện kiểm soát trong chính quá trình giao hàng. Nguy cơ có thể phát sinh từ bao gói không kín, thời gian vận chuyển kéo dài, nhiệt độ bảo quản không phù hợp hoặc phương tiện, dụng cụ giao nhận không bảo đảm. Nếu chỉ kiểm soát giấy tờ của nơi chế biến mà bỏ ngỏ khâu giao hàng thì chuỗi bảo đảm an toàn vẫn còn một mắt xích yếu.

Theo đại biểu,  bổ sung vào Điều 36 quy định cụ thể: người giao hàng, phương tiện và dụng cụ chứa đựng thực phẩm phải đáp ứng Điều 25 của Luật; bao gói phải phù hợp, bảo vệ thực phẩm khỏi nhiễm bẩn và duy trì nhiệt độ cần thiết đối với thực phẩm nóng, lạnh. Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm của nền tảng trong kiểm duyệt thông tin, tiếp nhận và xử lý phản ánh; có cơ chế tạm ẩn hoặc gỡ thông tin sản phẩm, gian hàng khi có căn cứ về nguy cơ mất an toàn trong thời gian xác minh; cần rà soát Điều 13; khoản 3, Điều 9 và Điều 36 để tránh trùng lặp nghĩa vụ nhưng không tạo khoảng trống trách nhiệm.

Thứ ba, về thời hạn hiệu lực của giấy đăng ký bản công bố sản phẩm tại khoản 2, Điều 47 và giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm tại khoản 2, Điều 43.

Dự thảo quy định giấy đăng ký bản công bố sản phẩm có hiệu lực 5 năm và giấy chứng nhận cơ sở có hiệu lực 3 năm. Mục tiêu rà soát định kỳ là cần thiết, nhưng nếu mọi sản phẩm, mọi cơ sở đều phải gia hạn theo chu kỳ thì sẽ phát sinh khối lượng hồ sơ lớn, tăng chi phí cho doanh nghiệp và áp lực xử lý cho cơ quan quản lý. Giấy tờ còn hiệu lực cũng không tự bảo đảm sản phẩm luôn an toàn nếu cơ sở vi phạm trong quá trình sản xuất.

Cần bổ sung quy định việc đánh giá định lượng số lượng sản phẩm, cơ sở chịu tác động, chi phí gia hạn và năng lực giải quyết hồ sơ trước khi giữ các thời hạn này. Cân nhắc thêm  quy định về việc bỏ gia hạn định kỳ đại trà đối với hồ sơ công bố sản phẩm ổn định, thay bằng nghĩa vụ cập nhật điện tử khi có thay đổi trọng yếu, tự đánh giá định kỳ và hậu kiểm dựa trên nguy cơ. Đối với giấy chứng nhận cơ sở, nếu vẫn giữ thời hạn 3 năm thì cần quy định thủ tục gia hạn đơn giản, tái sử dụng dữ liệu đã có và ưu tiên kiểm tra cơ sở có vi phạm hoặc thuộc nhóm nguy cơ cao.

Thứ tư, về phân tích nguy cơ tại Điều 51, Điều 52 và Điều 53.

Dự thảo xác định phân tích nguy cơ là cơ sở để điều chỉnh biện pháp quản lý, nhưng khoản 2, Điều 51 lại loại trừ kết quả phân tích nguy cơ khỏi căn cứ phân loại đối tượng công bố sản phẩm và cấp, miễn cấp giấy chứng nhận cơ sở. Khoản 2, Điều 53 đồng thời quy định chưa điều chỉnh biện pháp quản lý theo nguy cơ khi chưa có kết quả phân tích nguy cơ, trong khi lộ trình triển khai đầy đủ có thể kéo dài. Cách thiết kế này có nguy cơ làm chính sách quản lý theo nguy cơ chưa phát huy vai trò ngay khi Luật có hiệu lực.

Đề nghị làm rõ mối quan hệ giữa Điều 51 và Điều 53; xác định cụ thể biện pháp nào bắt buộc phải căn cứ kết quả phân tích nguy cơ và biện pháp nào vẫn áp dụng trong giai đoạn chuyển tiếp; cần quy định thời hạn tối đa hoàn thành lộ trình và cơ chế công bố tiến độ. Khoản 1, Điều 52 nên quy định danh mục thực phẩm không an toàn, nguy cơ cao được ban hành bằng văn bản quy phạm pháp luật, không phải văn bản hành chính, bởi danh mục này làm phát sinh nghĩa vụ và chi phí tuân thủ. Trong thời gian chưa hoàn thành phân tích nguy cơ, cần có danh mục nguy cơ cao tạm thời dựa trên bằng chứng khoa học để không gián đoạn kiểm tra, truy xuất, thu hồi và ứng phó sự cố.

PV (lược ghi)