Báo Cần Thơ

Ông Lê Minh Nam, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, góp ý dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa

Cỡ chữ 18 pixel

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, chiều 24-10, Quốc hội thảo luận ở tổ.  Ông Lê Minh Nam, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, có những ý kiến góp ý về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa.

Ông Lê Minh Nam phát biểu trong phiên thảo luận ở tổ chiều 24-10.

Đại biểu Lê Minh Nam nhất trí với sự cần thiết phải xem xét, trình dự án Luật tại kỳ họp này. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng trong xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam toàn diện, đưa văn hóa trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực phát triển bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.

Qua tìm hiểu thông tin kinh nghiệm của một số quốc gia thành công về phát triển công nghiệp văn hóa, đồng thời nghiên cứu những cơ chế hỗ trợ, phân bổ nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa đang quy định tại dự thảo Luật, đại biểu góp ý một số nội dung sau:

Tìm kiếm thông tin và nhờ AI tổng hợp dữ liệu tại 2 quốc gia có thành công về phát triển công nghiệp văn hóa cho thấy sự thành công mang tính biểu tượng toàn cầu của Mỹ (qua Hollywood, âm nhạc đại chúng) và Hàn Quốc (qua làn sóng K-pop, K-drama) cho thấy 2 bài học rất có giá trị cho các quốc gia đang phát triển tham khảo, đó là: mô hình "Thị trường tự do tự vận hành" của Mỹ và mô hình "Nhà nước kiến tạo và đồng hành" của Hàn Quốc.

Với Mỹ, xây dựng và phát triển mô hình thị trường tự do và thương mại hóa toàn diện. Triết lý của Mỹ là "Chính phủ kiến tạo hành lang, thị trường dẫn dắt cuộc chơi". Họ coi sản phẩm văn hóa là một loại hàng hóa kinh tế đặc biệt cần được khai thác tối đa giá trị.

Theo đó: Thứ nhất, họ coi trọng bảo hộ sở hữu trí tuệ nghiêm ngặt làm xương sống thông qua việc áp dụng các luật bản quyền cực kỳ chặt chẽ. Thực tế, không nhà đầu tư nào dám bỏ hàng trăm triệu USD làm phim hay nhạc nếu sản phẩm sáng tạo bị vi phạm bản quyền ở phạm vi rộng.

Thứ hai, họ tập trung thúc đẩy mô hình "Hệ sinh thái chuỗi giá trị", trong đó doanh thu của 1 sản phẩm văn hóa Mỹ không dừng lại ở việc bán vé hay bán đĩa mà được khai thác nối dài qua chuỗi giá trị phái sinh: nhượng quyền đồ chơi, thời trang, trò chơi điện tử cho đến xây dựng các công viên chủ đề (Disneyland, Universal Studios). Ngoài bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ thì Chính phủ sử dụng đòn bẩy tài chính và cơ chế thuế gián tiếp để hỗ trợ. Thứ ba, chống độc quyền để duy trì tính cạnh tranh, điển hình như việc Chính phủ đưa ra các phán quyết buộc các hãng phim lớn phải tách rời khỏi hệ thống rạp chiếu, giúp các nhà sản xuất độc lập có đất diễn, ngăn chặn sự thao túng và duy trì dòng chảy sáng tạo liên tục cho Hollywood. Thứ tư là định hướng chủ động tính đến mục tiêu toàn cầu hóa ngay từ khâu ý tưởng: sản phẩm của Mỹ (như phim Disney) luôn lồng ghép các giá trị mang tính phổ quát, nền tảng (tình cảm gia đình, chính nghĩa, vượt lên số phận), giúp sản phẩm dễ dàng vượt qua rào cản địa lý và sắc tộc để bán ra toàn thế giới.

Bài học từ Hàn Quốc: Khác với Mỹ, sự thành công của Hàn Quốc in đậm dấu ấn quy hoạch, định hướng và hỗ trợ tài lực có hệ thống từ Chính phủ.

Theo đó, Hàn Quốc thành lập Cơ quan Nội dung sáng tạo Hàn Quốc (KOCCA) là bệ đỡ cho toàn bộ ngành. Cơ quan này không can thiệp vào nội dung sáng tạo mà tập trung: hỗ trợ vốn cho start-up, bảo hộ bản quyền, nghiên cứu thị trường và thành lập văn phòng đại diện toàn cầu để "mở đường" cho doanh nghiệp tư nhân.

Hàn Quốc cũng thực hiện công nghiệp hóa quy trình sản xuất tài năng: Các công ty giải trí vận hành như 1 chuỗi nhà máy: tuyển chọn toàn cầu, đào tạo khắc nghiệt, đóng gói hình ảnh và phát hành bài bản. Tận dụng nền tảng số và "Kinh tế người hâm mộ" (Fan economy), theo đó chủ động bắt tay với các nền tảng xuyên biên giới (YouTube, TikTok, Netflix…) để phân phối trực tiếp tới khán giả toàn cầu. Họ sử dụng các thuật toán và "hệ dữ liệu khán giả" của Cơ quan Nội dung sáng tạo để thiết kế sản phẩm cho vừa vặn với thị hiếu từng khu vực.

Trong khai thác hiệu ứng số nhân kinh tế (Multiplier effect): Hàn Quốc tính toán rằng, cứ 100 USD xuất khẩu sản phẩm văn hóa (phim, nhạc) sẽ kéo theo 180 USD xuất khẩu các hàng hóa tiêu dùng khác như mỹ phẩm, ẩm thực, thời trang và du lịch. Văn hóa trở thành mũi nhọn kéo toàn bộ nền kinh tế đi lên.

Theo đại biểu, Việt Nam không thể rập khuôn bài học của 2 quốc gia này vì chúng ta có điều kiện, hoàn cảnh, nền tảng cụ thể riêng. Tuy nhiên, chúng ta hoàn toàn có thể chọn lọc áp dụng kinh nghiệm, thông lệ quốc tế tích cực cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mình. Việt Nam có thể kết hợp cả 2 mô hình bằng cách phát huy vai trò kiến tạo, định hướng và hỗ trợ chiến lược từ Nhà nước (theo kinh nghiệm Hàn Quốc) song song với việc đẩy mạnh cơ chế thị trường, năng lực sáng tạo và thương mại hóa của khu vực tư nhân (theo kinh nghiệm Hoa Kỳ), vấn đề là lựa chọn tiềm năng, thế mạnh hiện có và tiềm năng để lựa chọn cho phù hợp.

Qua xem xét dự án Luật cho thấy dự thảo đã có giải thích từ ngữ và quy định đầy đủ về mặt nguyên tắc các chính sách và công cụ để thực thi phát triển công nghiệp văn hóa tại một số Điều luật. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng cần phải tiếp tục đánh giá thật sâu các điều kiện về thể chế, nguồn lực đầu tư, con người thực hiện và lộ trình áp dụng để từ các quan điểm nguyên tắc đó chuyển hóa thành quy định cụ thể tại các điều khoản tiếp theo nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả, khả thi, tạo ra sản phẩm công nghiệp văn hóa thực tiễn theo đúng tinh thần đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nêu là để chính sách không nằm trên giấy mà phải có giá trị đo lường được bằng sản phẩm cụ thể cũng như phải tạo ra các sản phẩm, thị trường và giá trị thực chất phục vụ quốc gia và xã hội. Vì nếu chỉ quy định nguyên tắc nhưng chưa thể hấp thụ được trong thực tiễn thì không chỉ chưa đạt được mục tiêu chính sách mà còn lãng phí cả cơ hội.

Đó là quan điểm chung, còn đi vào nội dung góp ý cụ thể cho dự thảo Luật, đại biểu đề nghị xem xét thêm 2 nội dung sau:

Thứ nhất, đề nghị nghiên cứu để tập trung quy định những cơ chế đặc thù thực sự cần thiết nhằm tháo gỡ điểm nghẽn phát triển công nghiệp văn hóa. Những nội dung đã được pháp luật chuyên ngành quy định đầy đủ thì thực hiện theo pháp luật chuyên ngành; không nên quy định lại hoặc thiết lập những nguyên tắc áp dụng pháp luật quá rộng.

Ví dụ như: Tại khoản 5, Điều 3. Nguyên tắc phát triển công nghiệp văn hóa và nguyên tắc áp dụng pháp luật: “Trường hợp Luật này có quy định về cơ chế, chính sách khác với luật, nghị quyết khác của Quốc hội về phát triển công nghiệp văn hóa thì áp dụng quy định của Luật này, trừ trường hợp luật, nghị quyết khác của Quốc hội có quy định về cùng một chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với cùng một đối tượng với mức ưu tiên, ưu đãi cao hơn thì áp dụng mức ưu tiên, ưu đãi cao hơn”. Đại biểu cho rằng, quy định thế này thì rất bao trùm nhưng khó đối chiếu và áp dụng.

Hoặc tại Điều 9 Thử nghiệm có kiểm soát trong các ngành công nghiệp văn hóa cũng nêu vẫn còn có tính nguyên tắc, cần làm rõ hơn cơ chế đặc thù và phạm vi thử nghiệm, quy trình thủ tục và thẩm quyền quyết định cụ thể, đảm bảo có sự gắn kết với nhau. Cụ thể như tại khoản 4, Điều 9 quy định về “Quyết định cho phép chấp thuận cho thử nghiệm có kiểm soát trong các ngành công nghiệp văn hóa” đã có quy định Chính phủ quy định “thẩm quyền chấp thuận, điều chỉnh, gia hạn, tạm dừng, chấm dứt thử nghiệm có kiểm soát trong các ngành công nghiệp văn hóa” tại khoản 7; giao UBND cấp tỉnh quy định “trình tự, thủ tục, hồ sơ, phương thức giám sát, chế độ báo cáo và các nội dung kỹ thuật cần thiết để tổ chức thực hiện thử nghiệm có kiểm soát” tại khoản 8 nhưng rất cần phải cụ thể hóa thêm, vì nội dung này có rủi ro cần có kiểm soát, nếu không rõ thì khi triển khai thực tiễn là rất khó. Đối chiếu với dự thảo Nghị định kèm theo mới chỉ nêu thẩm quyền của UBND cấp tỉnh trong phạm vi địa giới hành chính của địa phương; thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trên địa bàn từ 2 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên; hoặc thuộc chương trình, nhiệm vụ, đề án, dự án do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì quản lý còn Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền quyết định trường hợp hoạt động thử nghiệm thuộc phạm vi quản lý của từ 2 bộ, cơ quan ngang bộ trở lên mà cần áp dụng khác với quy định của pháp luật thuộc thẩm quyền quản lý của các cơ quan đó.

Nếu so sánh các quy định nêu trên thì “trình tự, thủ tục, hồ sơ, phương thức giám sát, chế độ báo cáo và các nội dung kỹ thuật cần thiết” là do UBND cấp tỉnh thực hiện, trong khi để đồng bộ, thống nhất trọng phạm vi toàn quốc thì không rõ sẽ dựa trên cơ sở nào, liệu có khoảng trống hay không, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục nghiên cứu.

Thứ hai, bảo đảm các chính sách ưu đãi, hỗ trợ có đủ điều kiện thực hiện và được kiểm soát hiệu quả. Cần xác định rõ nguồn lực, đối tượng, điều kiện, phạm vi, mức hỗ trợ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức thực hiện, nhất là đối với các chính sách liên quan đến ngân sách nhà nước, đất đai, tài sản công và tín dụng. 

Về hạ tầng, đất đai và tài sản công quy định ở các Điều 17. Tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; Điều 19. Đánh giá hiệu quả đối với hạ tầng công nghiệp văn hóa; Điều 31. Hỗ trợ, ưu đãi đầu tư đối với phát triển hạ tầng công nghiệp văn hóa; Điều 32. Hỗ trợ, ưu đãi đầu tư đối với cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa và hoạt động sản xuất, cung cấp sản phẩm công nghiệp văn hóa, cần phải làm rõ các quy định về điều kiện lựa chọn nhà đầu tư, ưu đãi đất đai và hiệu quả khai thác hạ tầng.

Về nguồn lực và chính sách hỗ trợ đầu tư, tài chính quy định tại các Điều 29. Tài chính cho phát triển công nghiệp văn hóa; Điều 30. Đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghiệp văn hóa; Điều 33. Hỗ trợ, ưu đãi đối với dự án đầu tư nước ngoài ưu tiên thu hút trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa; Điều 34. Hỗ trợ chi phí sản xuất cho các dự án công nghiệp văn hóa có giá trị kinh tế cao; Điều 35. Hỗ trợ, ưu đãi đối với cơ sở công nghiệp văn hóa không vì mục tiêu lợi nhuận; Điều 36. Chính sách hoàn thuế cho đoàn làm phim nước ngoài sử dụng bối cảnh tại Việt Nam… cần được rà soát để xác định nguồn lực, điều kiện hỗ trợ, chia sẻ rủi ro, trách nhiệm và đánh giá hiệu quả cụ thể, có gắn với các quy định tại Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư, Luật thuế….

Qua xem xét các quy định chung tại Luật và các quy định cụ thể tại chương VI về đầu tư, hỗ trợ và ưu đãi phát triển công nghiệp văn hóa tại dự thảo Nghị định đính kèm hồ sơ trình cho thấy có những nội dung có thể chưa đủ cụ thể, đồng bộ với các quy định pháp luật có liên quan để có thể triển khai thực hiện trong thực tiễn. Rất mong cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu để hoàn thiện dự thảo Luật đảm bảo chặt chẽ, toàn diện và đặc biệt là có thể triển khai khi tổ chức thực hiện.

PV (lược ghi)