Báo Cần Thơ

Đề nghị quy định rõ đối tượng chịu thuế và được miễn thuế đất

Cỡ chữ 18 pixel
Chưa có bản âm thanh
Cỡ chữ 18 pixel

Sáng 6/11, tiếp tục Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và Luật Thuế thu nhập cá nhân, các đại biểu đề nghị làm rõ tiêu chí áp dụng thuế suất 0,2% đối với đất bỏ hoang, phạm vi miễn thuế và cơ chế đánh giá hiệu quả các chính sách ưu đãi.

Đại biểu Quốc hội tỉnh Hưng Yên Nguyễn Văn Huy phát biểu. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

Đại biểu Nguyễn Văn Huy (Đoàn Hưng Yên): Chỉ đánh thuế 0,2% đối với phần đất thực tế bỏ hoang

Tôi đồng tình với việc áp dụng thuế suất 0,2% đối với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng, chậm đưa vào sử dụng nhằm hạn chế đầu cơ, găm giữ đất đai. Tuy nhiên, cần làm rõ cách tính thuế đối với thửa đất có nhiều phần diện tích với tình trạng sử dụng khác nhau.

Thực tế, có dự án đã hoàn thành một số hạng mục nhưng các hạng mục khác vẫn đang triển khai. Nếu căn cứ vào tình trạng chung của cả thửa đất hoặc dự án để áp dụng thuế suất 0,2% thì có thể đánh thuế cả phần diện tích đã được sử dụng đúng mục đích.

Tôi đề nghị chỉ áp dụng mức thuế suất này đối với phần diện tích thực tế bỏ hoang, không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng; phần diện tích đã được sử dụng hợp pháp áp dụng mức thuế tương ứng theo quy định hiện hành.

Đối với đất sử dụng vào mục đích giáo dục, cần quy định rõ phạm vi miễn thuế, không chỉ giới hạn ở diện tích phòng học mà bao gồm cả thư viện, phòng thí nghiệm, khu thực hành, sân chơi, bãi tập, ký túc xá và công trình phụ trợ phục vụ trực tiếp hoạt động giáo dục. Đồng thời, phải phân định rõ diện tích phục vụ giáo dục với diện tích kinh doanh độc lập.

Về tổ chức thực hiện, tôi đề nghị quy định rõ trách nhiệm của cơ quan thuế cơ sở và chính quyền cấp xã trong cung cấp, xác nhận, cập nhật thông tin đất đai. Việc trao đổi cần thông qua kết nối dữ liệu, không yêu cầu người dân cung cấp lại giấy tờ mà cơ quan nhà nước đã có.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn thành phố Hải Phòng): Đề nghị đánh giá hiệu quả ưu đãi thuế sau 3 năm

Quang cảnh phiên họp. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

Tôi nhất trí với chính sách miễn thuế đối với hoạt động cung cấp suất ăn nhằm khuyến khích nhà cung cấp đầu tư, nâng cao năng lực, tăng cạnh tranh, qua đó cải thiện chất lượng bữa ăn.

Không nên yêu cầu toàn bộ số thuế được miễn phải chuyển ngay thành giảm giá từng suất ăn, bởi nguồn lực này có thể được sử dụng để đầu tư thiết bị, đào tạo nhân lực, cải thiện điều kiện chế biến. Tuy nhiên, cần có cơ chế theo dõi, đánh giá hiệu quả thực tế, bởi số thuế được miễn và số đơn vị thụ hưởng chưa đủ để kết luận chính sách đạt hiệu quả.

Tôi đề nghị xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm, tiến độ ban hành hướng dẫn và cơ chế phối hợp giữa các ngành tài chính, giáo dục, y tế; đồng thời không phát sinh thêm thủ tục xác nhận giảm giá, tăng khẩu phần mới được miễn thuế, cũng không giao cơ quan thuế đánh giá chất lượng từng bữa ăn.

Chính phủ báo cáo Quốc hội sau 3 năm thực hiện chính sách, trong đó đánh giá mức đầu tư của nhà cung cấp, giá, chất lượng, an toàn thực phẩm và khả năng tiếp cận của người học, người bệnh. Đây là thời hạn kiểm chứng hiệu quả, không phải thời hạn chấm dứt ưu đãi.

Một vấn đề khác cần làm rõ là tác động của việc cộng gộp diện tích đất ở sau sắp xếp địa giới hành chính. Người dân có đất tại hai địa phương trước đây nay thuộc cùng một tỉnh, thành phố có thể phát sinh thay đổi diện tích vượt hạn mức và số thuế phải nộp dù không mua thêm đất.

Tôi đề nghị Chính phủ đánh giá cụ thể nghĩa vụ thuế trước và sau hợp nhất, làm rõ thời điểm thay đổi và cách xử lý phần chênh lệch. Trường hợp quy định hiện hành chưa xử lý đầy đủ, cần báo cáo Quốc hội phương án chuyển tiếp, trong đó xác định thời kỳ áp dụng, hạn mức được lựa chọn và việc khấu trừ số thuế đã nộp.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng phát biểu. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

Đại biểu Nguyễn Thị Sửu (Đoàn thành phố Huế): Miễn thuế đất ở cho đồng bào dân tộc thiểu số phải rõ đối tượng, địa bàn

Tôi cho rằng chính sách miễn thuế đất ở trong hạn mức đối với đồng bào dân tộc thiểu số là cần thiết, nhưng dự thảo cần làm rõ người được hưởng, địa bàn và hạn mức miễn thuế.

Cần xác định người được miễn thuế là người dân tộc thiểu số có nơi cư trú tại địa bàn hay chỉ cần có đất ở tại địa bàn; trường hợp có nhiều thửa đất hoặc nhiều người cùng quyền sử dụng một thửa đất thì xác định quyền miễn thuế như thế nào.

Tôi đề nghị quy định rõ đất ở được miễn thuế phải thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo danh mục địa bàn do cơ quan có thẩm quyền quy định. Đồng thời, phải bảo đảm nguyên tắc người nộp thuế chỉ được miễn tại một địa điểm do mình lựa chọn, tránh miễn trùng lặp khi có nhiều thửa đất.

Về tổ chức thực hiện, tôi đề nghị kết nối dữ liệu giữa cơ quan thuế, cơ quan quản lý đất đai, dân cư và cơ quan quản lý công tác dân tộc để xác định đúng đối tượng, diện tích và hạn mức được miễn. Những thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu quốc gia thì không yêu cầu người dân kê khai, nộp lại giấy tờ chứng minh.

Chính sách miễn thuế cần bảo đảm đúng người, đúng đất, đúng hạn mức, vừa hỗ trợ đúng đối tượng vừa tránh phát sinh thủ tục hành chính và tình trạng lợi dụng chính sách.

Thùy Dương - Thắng Trung (TTXVN)

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục

Chính trịTrở lại Chính trị

Ý kiến bạn đọc

Gửi ý kiến của bạn

0 / 1.000 ký tự

Chức năng gửi ý kiến hiện chưa khả dụng.

Ý kiến được Ban Biên tập duyệt trước khi đăng. Số điện thoại và email chỉ dùng để liên hệ khi cần, không hiển thị công khai. Các trường có dấu * là bắt buộc.