Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, chiều 6-11, Quốc hội thảo luận ở hội trường. Bà Triệu Thị Ngọc Diễm, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, góp ý dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi).

Bà Triệu Thị Ngọc Diễm phát biểu tại hội trường chiều 6-11.
Qua nghiên cứu hồ sơ dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) được trình và tài liệu sau thảo luận tổ, đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm góp ý 3 nội dung cụ thể như sau:
Thứ nhất, cơ chế giải quyết chồng lấn sử dụng biển.
Điều 7 đã xác định cơ quan chủ trì điều phối ở trung ương và trách nhiệm phối hợp của địa phương. Điều 21 nêu nguyên tắc, tiêu chí giải quyết xung đột chồng lấn trong sử dụng không gian biển.
Đối với địa phương phát triển đồng thời cảng biển, năng lượng, thủy sản và du lịch, một khu vực biển có thể liên quan đến nhiều ngành. Nếu chỉ dừng ở việc lấy ý kiến, tổng hợp và báo cáo mà không có thời hạn, hồ sơ có thể kéo dài; doanh nghiệp không dự tính được tiến độ, người dân cũng không biết hoạt động hiện hữu của mình sẽ được xử lý ra sao.
Đại biểu đề nghị bổ sung khoản 4, Điều 21 theo hướng: “Việc giải quyết xung đột, chồng lấn phải xác định cơ quan chủ trì, cơ quan có thẩm quyền quyết định và thời hạn xử lý. Trường hợp hết thời hạn phối hợp mà chưa thống nhất, cơ quan chủ trì có trách nhiệm tổng hợp đầy đủ các ý kiến và trình cơ quan có thẩm quyền quyết định; việc chưa thống nhất không được là lý do kéo dài xử lý không xác định thời hạn.”.
Đồng thời, bổ sung vào khoản 5, Điều 21 nội dung giao Chính phủ quy định thời hạn từng bước, trách nhiệm giải trình khi chậm xử lý và việc thông báo kết quả cho tổ chức, cá nhân, cộng đồng có liên quan.
Thứ hai, chính sách hỗ trợ cộng đồng dân cư ven biển trong phát triển các hoạt động kinh tế sử dụng không gian biển (Điều 47).
Điều 47 đã quy định hỗ trợ chuyển đổi sinh kế và xác định mức độ ảnh hưởng của dự án là một tiêu chí hỗ trợ. Tuy nhiên, dự thảo luật chưa xác định rõ trách nhiệm lập phương án, nguồn kinh phí và thời điểm triển khai đối với cộng đồng bị ảnh hưởng trực tiếp.
Trong sử dụng không gian biển, cần lưu ý đến trường hợp người dân có hoạt động mưu sinh hợp pháp nhưng không thuộc đối tượng có quyền sử dụng khu vực biển bị thu hồi. Nếu chỉ xem xét hỗ trợ khi thu hồi khu vực biển thì có thể chưa bao quát nhóm bị giảm thu nhập hoặc phải chuyển đổi nghề do dự án. Từ thực tế trên, đại biểu có 3 kiến nghị:
(1) Bổ sung sau khoản 3, Điều 47 nội dung: “Đối với cộng đồng dân cư ven biển có sinh kế hợp pháp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi dự án sử dụng không gian biển, UBND cấp tỉnh tổ chức xác định đối tượng, mức độ ảnh hưởng và phê duyệt phương án hỗ trợ. Phương án phải được tham vấn cộng đồng, công khai về đối tượng, nội dung, kinh phí, tiến độ và trách nhiệm thực hiện; bảo đảm các biện pháp hỗ trợ cần thiết được triển khai trước khi hoạt động của dự án làm gián đoạn sinh kế.”.
(2) Đề nghị giao Chính phủ quy định rõ trách nhiệm đóng góp kinh phí của chủ dự án tương ứng với tác động do dự án gây ra, phần hỗ trợ của nhà nước và nguyên tắc không chi trả trùng cho cùng 1 nội dung.
(3) Hỗ trợ chuyển đổi sinh kế phải hướng đến việc làm và thu nhập thực tế. Người dân cần biết sau khi thay đổi hoạt động sản xuất, họ có thể làm gì, được hỗ trợ như thế nào và cơ quan nào chịu trách nhiệm theo dõi.
Thứ ba, quy định về khoảng lùi xây dựng (Điều 51, 52).
Khoản 1, Điều 51 xác định khoảng lùi xây dựng trong phạm vi giữa đường mép nước biển thấp nhất trung bình nhiều năm và đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm. Khoản 6, Điều 52 đề cập việc rà soát, phân loại, chọn lựa biện pháp xử lý công trình trong hành lang bảo vệ bờ biển, trong phạm vi khoảng lùi xây dựng và các khu vực có nguy cơ xói lở, sạt lở hoặc ngập lụt nghiêm trọng thuộc phạm vi quản lý; nhất là các công trình có mức độ rủi ro, đe dọa tính mạng, tài sản của nhân dân.
Đại biểu thống nhất với việc dự thảo đã tính đến cả 2 phạm vi. Tuy nhiên, cần làm rõ hơn cơ chế áp dụng đối với vùng bờ đang biến động nhanh.
Hiện nay, tại 1 số địa phương, bờ biển bị sạt lở đặc biệt nghiêm trọng, đe dọa sinh kế nuôi trồng thủy sản, làm muối và trồng màu của nhiều hộ dân phía trong đê. Thực tế này cho thấy phạm vi cần bảo đảm an toàn có thể vượt ra ngoài khoảng giữa hai đường mực nước được nêu tại khoản 1. Do đó, đại biểu có 2 kiến nghị:
(1) Bổ sung vào khoản 6, Điều 52 trách nhiệm của UBND cấp tỉnh trong việc xác định, công bố khu vực nguy hiểm ngoài khoảng lùi; công khai biện pháp quản lý xây dựng, lộ trình xử lý, cơ quan thực hiện và nguồn kinh phí. Những khu vực có nguy cơ trực tiếp đối với tính mạng con người phải được ưu tiên bố trí nguồn lực.
(2) Bổ sung vào điểm b, khoản 5, Điều 76 nội dung: các dự án, công trình đã được chấp thuận, phê duyệt hoặc cấp phép trước ngày Luật này thông qua được tiếp tục thực hiện, nhưng phải rà soát yêu cầu an toàn khi có căn cứ xác định nguy cơ sạt lở, ngập lụt nghiêm trọng.
Từ những vấn đề trên, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự thảo theo hướng: nghĩa vụ tài chính chuyển tiếp phải rõ và công bằng; phân bổ khu vực biển phải minh bạch; hỗ trợ sinh kế phải có nguồn lực và tiến độ; quản lý vùng bờ phải theo sát rủi ro thực tế; phối hợp liên ngành phải xác định được trách nhiệm giải quyết. Điều này vừa giúp thu hút đầu tư, sử dụng hiệu quả tài nguyên, vừa tạo điều kiện để người dân cùng hưởng lợi từ phát triển kinh tế biển.
PV (lược ghi)


Ý kiến bạn đọc